Thứ Bảy, ngày 23 tháng 5 năm 2015

dữ liệu hóa (datafication)

quan chức muốn có một công cụ hiệu quả để ghi lại và theo dõi thông tin. Từ thời Kinh Thánh, các chính phủ đã tổ chức các cuộc điều tra để thu thập các bộ dữ liệu lớn về công dân của họ, và tưcmg tự đã hai trăm năm nay, các chuyên gia tính toán thu thập khối lượng lớn dữ liệu liên quan đến các rủi ro mà họ hy vọng sẽ hiểu được - hoặc ít nhất là tránh được.
Tuy nhiên, trong thòi đại analog, việc thu thập và game 7 viên ngọc rồng phân tích dữ liệu như vậy là vô cùng tốn kém và mất thòi gian. Những câu hỏi mói thường có nghĩa là dữ liệu phải được thu thập lại và việc phân tích phải bắt đầu lại. Bước tiến lớn đối vói việc quản lý dữ liệu hiệu quả hon đã xuất hiện cùng với số hóa: giúp cho máy tính có thể đọc thông tin analog, mà cũng làm cho nó dễ dàng hon và rẻ hon để lưu trữ và xử lý.
dữ liệu hóa (datafication)

Bước phát triển này đã cải thiện hiệu quả đáng kể. Việc thu thập và phân tích thông tin trước đây phải mất hàng năm, nay có thể được thực hiện trong vài ngày hoặc thậm chí ngắn hơn. Nhưng rất ít thứ khác thay đổi. Những người phân tích dữ liệu đã quá thường xuyên bị ngập trong thế giói analog, cho rằng các tập dữ liệu chỉ có những mục đích đơn lẻ mà giá trị của chúng đã được gắn liền. Các tiến trình của chúng ta đã duy trì định kiến này. Dù choi game 7 vien ngoc rong cũng quan trọng như số hóa đã tạo điều kiện cho việc chuyển sang dữ liệu lớn, nhưng chỉ sự tồn tại của máy tính đã không làm cho dữ liệu lớn xảy ra.
Tuy chưa có thuật ngữ thật tốt để mô tả những gì đang diễn ra hiện nay, nhưng một thuật ngữ giúp định hình được những thay đổi đó là dữ liệu hóa (datafication), một khái niệm mà chúng ta giói thiệu trong Chương Năm. Nó ám chỉ việc lấy thông tin về tất cả mọi thứ dưới ánh mặt trời - bao gồm cả những thứ chúng
Hướng dẫn chơi game 7 viên ngọc rồng: http://tingame247.net/game/game-7-vien-ngoc-rong-2015

Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

Giả thuyết thu nhập tương đối dựa trên quan điểm

Ở đây, Yp được coi là sự biểu hiện của những của cải mà cá nhân nhận được một cách tất yếu do trình độ nghề nghiệp của họ mang lại, Yt phản ánh những nhân tố khác. Tiêu dùng của mỗi cá nhân cũng được coi là hiệp khách giang hồ
tổng số của tiêu dùng thường xuyên (Cp) và tiêu dùng nhất thời (Q): Vậy c = cp + c, Giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường xuyên có quan hệ với nhau. cp = K(i,w,u). Yp Ở đây - K là tương quan của tiêu dùng thường xuyên và thu níĩập thường xuyên Giáo trinh 1 5«? cíc HOC THUYẾT KINH TẾ - i là tỷ suất lợi tức - w là tương quan giữa tài nguyên vật chất và thu nhập thường xuyên - u là phân chia thu nhập cho tiêu dùng và tiết kiệm. Từ đó ông khẳng định là, tiêu dùng thường xuyên phụ thuộc i, w, u là chính, chứ không phải là phụ thuộc vào thu nhập thường xuyên. Thu nhập và thu nhập tương đối Giả thuyết thu nhập thường xuyên phải được so sánh với giả thuyết thu nhập tương đối.

Giả thuyết thu nhập tương đối dựa trên quan điểm
 cho rằng mối tương quan giữa tiêu dùng so với thu nhập là một hàm số so sánh của những người tiêu dùng trong phân phối thu nhập. Theo ông, giả thuyết thu nhập thường xuyên cao hơn giả thuyết thu nhập tương đối vì ba lý do: Một là, nó đơn giản hơn và hấp dẫn hơn. Vì nó thích ứng với cả những nghiên cứu về ngân sách, cả với tiến trình của chuỗi nhất thời. Hai là, nó phong phú hơn vì nó cho biết số lớn đặc game hiep khach giang ho
tính ứng xử của người tiêu dùng. Ba là, nó trình bày rõ ràng hơn các hiện tượng. b. Lý thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân Lý thuyết nổi tiếng của M. Friedman và trường phái trọng tiền hiện đại là chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân. Tiền đề xuất phát của lý thuyết này phù hợp với tư tưởng của chủ nghĩa tự do mới ở Cộng hoà liên bang Đức. Đó là tư tưởng ủng hộ tự do kinh doanh, chống lại sự can thiệp của nhà nước. Nội dung cơ bản của thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân: Thứ nhất, mức cung tiền tệ là nhân tố có tính quyết định
Xem thêm game tại: http://tingame247.net/game/game-hiep-khach-giang-ho

Thứ Hai, ngày 18 tháng 5 năm 2015

VỀ CÁCH THÚC KIẾN TRÚC

3.2.4. VỀ CÁCH THÚC KIẾN TRÚC thì đặc điểm của ngôi nhà Việt Nam truyền thống là rất động và linh hoạt.
Chất động, linh hoạt đó trước hết thể hiện ờ lối kết cấu khung. Cốt lõi cùa ngôi nhà là một bộ khung chịu lực tạo nên bời các bộ phận liên kết với nhau trong một không gian ba chiều: Theo chiều dứng, trọng lực của ngôi nhà phân bố đều vào các cột game trồng cây bắn ma và dồn xuống các viên đá tàng kê chân cột; theo chiéu ngang, các cột được nối với nhau bằng các kẻ tạo nên các vì kèo\ theo chiểu doc, các vì kèo được nối với nhau bằng các xà (từ xà nóc đến xà chân) tạo thành bộ khung. Không cần đến móng, tường; tường dất, vách nứa, ván bưng chi để che nắng mưa chứ không chịu lực.
VỀ CÁCH THÚC KIẾN TRÚC

Tất cả các chi tiết của ngôi nhà được liên kết với nhau bằng mộng Mộng là cách ghép theo nguyên lí âm-dương phần lồi ra (hình đuôi cá) của một bộ phận này với chỗ lõm vào có hình dáng và kích thước tương ứng ở một bộ phận khác. Kĩ thuật ghép mộng áp dụng cho mọi đổ mộc truyền thống, từ nhà đến giường tù, bàn ghế... tạo nên sự liên kết rất chắc chắn nhưng lại rất dộng và linh hoạt. Khi cần di chuyển hoặc thay thế một bộ phận bị mối một thì theo qui trình ngược lại là có thể tháo dỡ ra rất dễ dàng.
Để thống nhất quy cách, trong khi phương Tây dùng bản vẽ kĩ thuật phức tạp, chi li và cứng chắc thì người thợ mộc Việt Nam dùng cái thước tầm (còn gọi là mí mực, sào mực)n) là một thân tre (nứa) bổ đôi, trong lòng vạch những kí hiệu cho phép xác trong cay ban ma định các khoảng ngang, khoảng đứng và khoảng chảy, từ đó mà ấn dịnh được kích thước của các bộ phận. Cách làm thước tầm thì chung cho mọi nhà, nhưng do được tính theo một dơn vị rất cá nhân là đốt gốc ngón tay út hoặc gang tay của người chủ nhà (truyền thống lấy kích cỡ con người làm chuẩn để đo đạc tự nhiên và vũ trụ, xem III- §4.2.3), thành ra nhà nào thước ấy, thước tầm trở thành vật xác định quyền sờ hữu ngôi nhà cùa chủ nhân. Bời vậy mà, khi làm nhà xong, phải làm lễ cài sào để trình báo với thần linh thổ địa và long trọng gác cây thước tầm lên vị trí cao nhất giữa hai vì kèo; chỉ khi nào cần sửa chữa thì thợ cả mới lấy xuống dể đo cất các chi tiết thay thế.
Hướng dẫn chơi game trồng cây bắn ma: http://tingame247.net/game/game-trong-cay-ban-ma

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Phê phán kinh tế chính trị học

Trên cơ sở phát hiện này, K. Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng khoa học trong khoa kinh tế chính trị. Nhờ phát hiện này, lần đầu tiên trong lịch sử học thuyết kinh tế, K. Marx đã xây dựng học thuyết giá trị - lao game tây du ký
động một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Đồng thời, dựa vào phát hiện này, K. Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa mà trước đó, chưa ai có thể làm được. Toàn bộ các phạm trù kinh tế và các quy luật kinh tế tư bản chủ nghĩa được trình bày trong bộ Tư bản từ quyển I đến quyển III. Trong chương 'Tiền tệ hay lưu thông giản đơn" đã vạch ra bản chất của tiền tệ, năm chức nãng của tiền và phê phán các quan điểm tư sản về tiền. Những vấn đề này được trình bày một cách xuất sắc trong quyển I bộ Tư bản. Sau một thời kỳ gián đoạn, năm 1961, K. Marx lại tiếp tục công cuộc nghiên cứu lý luận kinh tế Từ tháng 8 năm 1861 đến tháng 7 năm 1863, ông hoàn thành một bản thảo lớn "

Phê phán kinh tế chính trị học
". Tác phẩm được viết ở 23 quyển vở, 1472 trang. Nó có thể được coi là bản thảo lần thứ hai của bộ Tư bản. Hầu hết những vấn đề viết trong bản thảo này sau này được đưa vào bộ Tư bản. Khi viết bản thảo lần thứ hai này, K. Marx đã có ý định đặt tên cho tác phẩm của mình 1 ầ Tư bản. Bản thảo lần thứ ba của Tư bản được game tay du ky
viết 1864-1865 K. Marx thay đổi cơ cấu của tác phẩm và dự kiến viết bộ rư bản thành 4 quyển sách: Quyển I: Quá trình sản xuất tư bản Quyển II: Quá trình lưu thông tư bản Quyển III: Các hình ihái và loại hình của toàn bộ quá trình nói chung. Quyển IV: Phê phán lịch sử lý luận giá trị thặng dư. Đến nãm 1865, bản thảo hoàn chỉnh của 3 quyển đầu đã viết xong, chỉ có bản thảo quyển IV đang ở giai đoạn tài liệu ban đầu. Năm 1967, quyển I bộ Tư bản được xuất bản bằng tiếng Đức. Lúc đó chỉ có 1000 bản. Do sức thuyết phục lớn, nên nó được in rộng rãi. Trong thời gian K. Marx còn sống, nó được xuất bản 138 lần, bằng 14 thứ tiếng và khối lượng 5-6 triệu cuốn,
Xem thêm game tại: http://tingame247.net/game/game-tay-du-ky

Thứ Ba, ngày 12 tháng 5 năm 2015

Triết lí âm dương và tính cách người Việt

1.3. Triết lí âm dương và tính cách người Việt
1.3.1. Như đâ nói, triết li âm dương là sản phẩm trừu tượng hỏa tử ỷ niệm vá ước mơ cùa cư dân nống nghiệp vé sự sinh sản cùa hoa màu và con rtgưửi. Từ hai cặp đối lập gốc ‘mẹ-cha’ vá “đát-trởi', người xưa dán dán suy ra hầng loạt cạp dổi lập như những thuộc tính cùa âm dương. Lối tư duy đỏ tạo nên ở người
Đông Nam Ả cổ đại một quan niêm lương phản lưỡng hợp (= nhị nguyên) cỏ phán chất phác vá thô sơ vé thế giới (duaỉisme cosmologique) mầ nhiéu nhá nghiên cứu phương Tây đã từng nói tới (J. Przyluski, G. Coedés, E. Poréemaspero...).
Từ tư duy lưỡng phan lưỡng hợp, trẽn cơ sờ, các bomberman cặp đối lập rỗ nét, người Đông Nam Á xưa hẳn da mở rộng dán ra dể tim cách xảc lập bản chất âm dương cho những khải niêm, sự vật biệt lập. Quả trinh nầy chắc đã dẫn họ tới chỗ cảm nhặn được tinh hai mặt của ám dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giửa chúng. Cổ lẽ những ý niệm cỏn có phán hón nhiẽn vâ chất phác đó dã là tìén đố giúp cho tổ tiên ngưởi Hán phạm trù hóa và hệ thổng hóa chủng thánh triết IIảm dương dưới dạng như chúng ta đả biết.
 Triết lí âm dương và tính cách người Việt

1.3.2. ở người Viẹt Nam, TƯ DUY LUỠNG PHÂN LUỒNG
HỘP bộc lộ rất dậm nét qua khuynh hướng CẶP ĐỒI ờ khắp nơi: từ tư duy dến cách sông, từ các dấu vết cỏ xưa đến những thói quen hiện dại: a) Trong khi trôn thế giới, vật tổ của các dân tộc thường là một loài dộng vật cụ thể (chim ưng, dại bàng, chó sói, bò...) thì vạt tổ của người Việt là một cặp đôi trừu tượng Tién-Rống. Những khái niệm truyén thuyết mang tính cặp đôi cũng gặp ờ người Mường {chim Ây - cái ứa), người Tày (Bác Luông - Slao Cài), người Thái {nàng Kẻ - tạo Cập)... - dó là những dấu vết cùa tư duy âm dương thời xa xưa.
b) ở Viột Nam, mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tấc âm dương hài hòa: óng Đồng - bà Cốt, đổng Có - đổng Cậu, đổng Đức Ông - đổng game bomberman Đức Bà... Khi xin âm dưcmg lợp nhà phải viên ngửa viôn sấp: khi ghép gồ thì phải một tấm có gờ lổi ra khớp với tám kia có rãnh lõm vào... Lối tư duy âm dương khiến người Việt nói đến dất, núi liổn nghĩ ngay đến nước, nói đến cha liển nghĩ ngay tới mẹ: Công CHA như núi Thái Sơn, Nghĩa MẸ như nước trong nguổn chày ra.
c) Tổ quổc đốì với người Viẹt Nam là một khối âm dương: DAT NUỔC. Đất-Nưóc, Núi-Nưóc, Non-Nước, Lửa-Nướe là những căp khái niêm thường trực. Ở Tây Nguyên, phẩn lớn các địa danh dểu bắt đẩu bầng chư (=míi, vd: Chư Sê) và krổng. dak (= sông, nước, vd: Kroong Pa, Dak B ’la). Một thời, ờ Tây Nguyên đã từng tổn tại các vương quốc của Vua Lừa (Pơtao Pui) và Vua Nước (Pơtao la).
d) Ngay những khái niêm vay mươn dơn dốc, khi nào Viẽt Nam cũng dươc nhân đói thành cảp: ỏ Trung Hoa, thần mai mối là một ông Tơ Hổng thì vào Việt Nam được biến thành ông Tơ - bà Nguyệt; ờ Ấn Độ chì có Phạt ông thì vào Việt Nam xuất hiên Phật Ông - Phật Bà (người Mường gọi là Bụt dục, Bụt cái)...
Hướng dẫn chơi game bomberman: http://tingame247.net/game/game-bomberman-2

Thứ Năm, ngày 23 tháng 4 năm 2015

Mông cổ hiện nay không còn là nước xã hội chủ nghĩa

về thu hút đầu tư nước ngoài, năm 1990. Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành và sửa đổi bổ sung vào các năm 1993, 1997. Mông cổ có khá nhiều lợi thế để thu hút đầu tư nước ngoài, đó là nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, giá lao động rẻ và dất đai rộng lớn. Để khuyến khích các nhà dầu tư nước ngoài, nhà nước đã miễn thuế nhập khẩu và thuế thu nhập, đặc biệt từ năm 1996 đã mớ cửa cho tất cả các hình thức xử lý số liệu bằng spss đầu tư nước ngoài từ liên doanh đến 100% vốn nước ngoài. Trong các nhà đầu tư nước ngoài vào Mông cổ, nếu tính theo nguồn vốn thi đứng đầu là Trung Quốc (24%). Nhật Bản (20%), Hàn Quốc (16%), Mỹ (10%)... Nguồn vốn FDI được phân bổ vào công nghiệp khai khoáng (25%), công nghiệp nhẹ (20%), chế biến nguyên liệu thô (11%), trong đó nguồn vốn đầu tư vào các ngành công nghệ cao còn rất hạn chế. Thực tế cho thấy, để có khả năng thu hút nhiều hơn nữa FDI cho mục tiêu phát triển kinh tế, Mông cổ cần tập trung vào việc phát triển và nâng cấp cơ sở hạ tầna, phát triến nguồn nhân lực và ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhìn chung, cải cách kinh tế diễn ra kéo theo những biến đổi nhanh dối với hệ thống chính trị với chế độ đa nguyên đa đầng. Mông cổ hiện nay không còn là nước xã hội chủ nghĩa.

Từ Đại hội IV (1986), Đàng nhân dân cách mạng Lào đã đề ra đường lối dổi mới yới chủ trương đồi mới cơ ché quản lý là xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển dsang cơ chế tự chủ kinh doanh, đối mới cơ chế tìa chính ngân hàng và mở rộng tín dụng; sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tộ trong kế hoạch hóa kinh tế quốc dân; khuyến khích phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tạo mọi điều kiện cho nhân dân sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa cho xã hội và tiến hành trao đổi hàng hóa thuận lợi, chuyển kinh tế phân tích nhân tố khám phá efa tự nhiên sang sàn xuất hàng hóa theo hướng xã hội chủ nghĩa, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân các bộ tộc Lào. Đồng thời, Đại hội IV chủ trương mở cửa nền kinh tế để mở mang phát triển kinh tế đối ngoại, đặc biệt đối với vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu. Đại hội V (1991), Đại hội VI (1996), Đại hội vn (2001) tiếp tục khẳng định và hoàn thiện đường lối đổi mới kinh tế với mục tiêu phấn đấu khắc phục tình trạng đói nghèo, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Đại hội Đảng nhân dân cách mạng Lào lần thứ VIII (3-2006) đề ra mục tiêu đến năm 2020 là xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho CNH, HĐH đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát' triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh té tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh.
Hướng dẫn chi tiết xử lý số liệu bằng spss http://luanvan1080.com/phan-tich-dinh-luong/xu-ly-so-lieu-phan-tich-nhan-to-kham-pha-efa-trong-spss.html

Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2015

Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các nước tư bản

Trong giai đoạn này, ở các nước tư bản, nhà nước sử dụng ngân sách ban chung cu times city cùng với ngân hàng trung ương như những công cụ quan trọng nhất để can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các khoản thu chi ngân sách, điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông và lãi suất ngân hàng mà chính phủ các nước tư bản có thể thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng khi nó rơi vào trạng thái suy thoái, hoặc giữ cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng (tăng trưởng đi kèm với lạm phát cao). Việc tăng cường quân sự hóa kinh tế, tăng chi tiêu cho sản xuất vũ khí chiến tranh cũng được coi như một biện pháp để bảo đảm sự toàn dụng nhân công.
Thực tế, tỳ lệ chi tiêu ngân sách nhà nước trong GNP ở các nước tư bản đã ngày càng tăng lên.
Ở nhiều nước tư bản phát triển, nhà nước trở thành người sở hữu một bộ phận khá lớn tư bản xã hội. Đến giữa những nãm 1950, phần các phương tiện sản xuất cơ bản (không kể sản xuất quân sự) nằm trong tay nhà nước đạt 13% ở Mỹ; 15% ở Canada; 20% ở CHLB Đức; 22% ở Nhật Bản; 30% ở Áo; 42% ờ Pháp. Ở các nước Pháp, Áo, Anh, CHLB Đức, khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu tư, thu hút khoảng 15-30% tổng số lao động và sản xuất khoảng 20-30% tổng sản phẩm công nghiệp. Ở nhiều nước tư bản, chính phủ tham gia xây dựng hầu như toàn bộ cơ sờ hạ tầng như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung ứng điện nước... và duy trì các ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu như than, dầu mỏ, gang thép...

Ở Pháp, các doanh nghiệp nhà nước nắm gần 100% ngành sản xuất than, hơi đốt, điện, ngành đường sắt, 88,3% ngành hàng hải, 86% ngành hàng không. Ở Anh, khu vực nhà nước nắm 100% sản xuất than, vận tải đường sắt và vận tải hành khách ở London, gần 100% điện, hơi đốt, 93,5% thép, 94,7% gang, 85% vận tải hàng không trong nước và toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc.
Chính phủ nhiều nước tư bản phát triển đã thực hiện chính sách tăng chi tiêu cho phúc lợi xã hội. Năm 1950, chi phúc lợi xã hội ở Mỹ là 23,5 tỷ USD, chiếm 37,4% chi ngân sách, đến nãm 1970, con số đó là 145,8 tỷ và 48,2%. Ở CHLB Đức, chi cho phúc lợi xã hội năm 1950 là 4 tỷ mác, năm 1970 là 26 tỷ mác. Việc gia tăng chi tiêu cho phúc lợi xã hội đã có tác dụng làm dịu đi những mâu thuẫn giai cấp, tạo nên sự ổn định tương đối cho sự phát triển kinh tế.

- Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các nước tư bản

Liên kết kinh tế trở thành một hiện tượng phổ biến, cần thiết cho sự phát triển của từng nước. Bời vì, trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra nhanh như vũ bão, một nước không thể có đủ khả năng về vốn, kỳ thuật và chuyên gia để tự mình xây dựng các ngành nghề thoả mãn cho nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng một cách có hiệu quả. Mặt khác, sau chiên tranh, Mỹ trở thành cường quốc kinh tế có vai trò thống trị tuyệt đối trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chính sách cùa Mỹ nhàm tạo ra một trật tự kinh tế ổn định, tăng cường liên kết kinh tế để đối đầu với hệ thống xã hội chù nghĩa mới hình thành.