Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2015

Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các nước tư bản

Trong giai đoạn này, ở các nước tư bản, nhà nước sử dụng ngân sách ban chung cu times city cùng với ngân hàng trung ương như những công cụ quan trọng nhất để can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các khoản thu chi ngân sách, điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông và lãi suất ngân hàng mà chính phủ các nước tư bản có thể thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng khi nó rơi vào trạng thái suy thoái, hoặc giữ cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng (tăng trưởng đi kèm với lạm phát cao). Việc tăng cường quân sự hóa kinh tế, tăng chi tiêu cho sản xuất vũ khí chiến tranh cũng được coi như một biện pháp để bảo đảm sự toàn dụng nhân công.
Thực tế, tỳ lệ chi tiêu ngân sách nhà nước trong GNP ở các nước tư bản đã ngày càng tăng lên.
Ở nhiều nước tư bản phát triển, nhà nước trở thành người sở hữu một bộ phận khá lớn tư bản xã hội. Đến giữa những nãm 1950, phần các phương tiện sản xuất cơ bản (không kể sản xuất quân sự) nằm trong tay nhà nước đạt 13% ở Mỹ; 15% ở Canada; 20% ở CHLB Đức; 22% ở Nhật Bản; 30% ở Áo; 42% ờ Pháp. Ở các nước Pháp, Áo, Anh, CHLB Đức, khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu tư, thu hút khoảng 15-30% tổng số lao động và sản xuất khoảng 20-30% tổng sản phẩm công nghiệp. Ở nhiều nước tư bản, chính phủ tham gia xây dựng hầu như toàn bộ cơ sờ hạ tầng như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung ứng điện nước... và duy trì các ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu như than, dầu mỏ, gang thép...

Ở Pháp, các doanh nghiệp nhà nước nắm gần 100% ngành sản xuất than, hơi đốt, điện, ngành đường sắt, 88,3% ngành hàng hải, 86% ngành hàng không. Ở Anh, khu vực nhà nước nắm 100% sản xuất than, vận tải đường sắt và vận tải hành khách ở London, gần 100% điện, hơi đốt, 93,5% thép, 94,7% gang, 85% vận tải hàng không trong nước và toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc.
Chính phủ nhiều nước tư bản phát triển đã thực hiện chính sách tăng chi tiêu cho phúc lợi xã hội. Năm 1950, chi phúc lợi xã hội ở Mỹ là 23,5 tỷ USD, chiếm 37,4% chi ngân sách, đến nãm 1970, con số đó là 145,8 tỷ và 48,2%. Ở CHLB Đức, chi cho phúc lợi xã hội năm 1950 là 4 tỷ mác, năm 1970 là 26 tỷ mác. Việc gia tăng chi tiêu cho phúc lợi xã hội đã có tác dụng làm dịu đi những mâu thuẫn giai cấp, tạo nên sự ổn định tương đối cho sự phát triển kinh tế.

- Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các nước tư bản

Liên kết kinh tế trở thành một hiện tượng phổ biến, cần thiết cho sự phát triển của từng nước. Bời vì, trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra nhanh như vũ bão, một nước không thể có đủ khả năng về vốn, kỳ thuật và chuyên gia để tự mình xây dựng các ngành nghề thoả mãn cho nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng một cách có hiệu quả. Mặt khác, sau chiên tranh, Mỹ trở thành cường quốc kinh tế có vai trò thống trị tuyệt đối trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chính sách cùa Mỹ nhàm tạo ra một trật tự kinh tế ổn định, tăng cường liên kết kinh tế để đối đầu với hệ thống xã hội chù nghĩa mới hình thành.